Trách nhiệm hình sự của đồng phạm

347
Đồng phạm và phân loại đồng phạm
Nguồn ảnh: Internet

1. Khái niệm đồng phạm

Khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự 2015 định nghĩa về đồng phạm như sau: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

Đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất hai người có năng lực trách nhiệm hình sự (có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) và cùng thực hiện hành vi phạm tội.

2. Phân loại đồng phạm

Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

– Người thực hành: là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Người thực hành giữ vai trò trung tâm trong vụ án.

– Người tổ chức: là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người chủ mưu là người đề ra những âm mưu, phương hướng thực hiện của nhóm đồng phạm. Người cầm đầu là người thành lập nhóm đồng phạm hoặc tham gia vào việc soạn thảo kế hoạch, phân công, điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm. 

– Người xúi giục: là người kích động, dụ dỗ , thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Bản chất của xúi giục là tác động đến tư tưởng và ý chí của người khác, khiến họ phạm tội. Mức độ nghiêm trọng của hành vi xúi giục tuỳ thuộc vào bản chất của người xúi giục và người bị xúi giục, mối quan hệ giữa họ và thủ đoạn tác động

– Người giúp sức: là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Tạo điều kiện tinh thần ở đây nghĩa là tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hành thực hiện tội phạm. Tạo những điều kiện vật chất là cung cấp công cụ, phương tiện hoặc khắc phục trở ngại tạo điều kiện cho người thực hành thực hiện tội phạm.

Lưu ý: Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

3. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Đồng phạm là trường hợp từ 02 người trở lên cùng thực hiện tội phạm, do vậy nững người có hành vi phạm tội đều cùng phải chịu trách nhiệm hình sự chung. Theo đó, những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về một tội phạm mà họ đã thực hiện và đều bị áp dụng hình phạt của cùng một tội mà họ thực hiện.

Mọi đồng phạm đều bị áp dụng nguyên tắc chung về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và nguyên tắc xác định hình phạt.

Bên cạnh đó, mỗi người đồng phạm lại đều phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập đối với hành vi phạm tội của mình. Điều này thể hiện ở chỗ, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đến đâu thì áp dụng trách nhiệm đến đó. Người đồng phạm này không phải chịu trách nhiệm hình sự về sự vượt quá của người đồng phạm khác.

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm được quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.

– Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

– Các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.