
Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (LHN&GĐ năm 2014) quy định: “Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Điều 53 LHN&GĐ năm 2014 quy định: “Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn
[…] Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này;[1] nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15[2] và Điều 16[3] của Luật này […]”.[4]
Điều 55 LHN&GĐ năm 2014: “Thuận tình ly hôn
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”.
Như vậy, theo nội dung mà LHN&GĐ năm 2014 quy định thì đối với yêu cầu “không công nhận quan hệ vợ chồng” được Tòa án “thụ lý đơn yêu cầu ly hôn” để giải quyết chứ không phải “thụ lý đơn thuận tình ly hôn”. Xem quy định tại Điều 28 và Điều 29 BLTTDS năm 2015 cũng không thấy có quy định cụ thể nào về thẩm quyền của Tòa án đối với yêu cầu “không công nhận quan hệ vợ chồng”.[5] Chính vì vậy đã dẫn đến thực tiễn xét xử còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định thủ tục thụ lý và giải quyết yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng là theo vụ án dân sự hay việc dân sự.









