
1. Khái niệm về đấu giá tài sản
Điều 5 Luật đấu giá tài sản quy định “Đấu giá tài sản” là hình thức bán tài sản có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự và thủ tục được quy định tại Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 49 của Luật đấu giá tài sản.
Theo đó, đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản thông qua thủ tục trả giá công khai giữa nhiều người muốn mua và người trả giá cao nhất là người được quyền mua tài sản bán. Đấu giá tài sản có thể là bắt buộc (theo quyết định của Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền) hoặc tự nguyện (theo nhu cầu của chủ sở hữu tài sản). Người bán tài sản có thể tự tổ chức đấu giá hoặc thông qua người bán đấu giá. Ở Việt Nam, người bán đấu giá là các trung tâm dịch vụ bán đấu giá do Sở Tư pháp trực tiếp quản lí hoặc là các thương nhân hoạt động bán đấu giá chuyên nghiệp được tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
Đấu giá tài sản được quy định trong Bộ luật dân sự, Luật thương mại của Việt Nam, Luật đấu giá tài sản.
2. Người có tài sản đấu giá là ai?
Căn cứ theo quy định tại Khoản 5 Điều 5 Luật đấu giá tài sản năm 2016 định nghĩa về người có tài sản đấu giá như sau: “Người có tài sản đấu giá là cá nhân, tổ chức sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền bán đấu giá tài sản hoặc người có quyền đưa tài sản ra đấu giá theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”.
3. Quyền và nghĩa vụ của người có tài sản đấu giá
- Người có tài sản bán đấu giá có các quyền được quy định tại Khoản 1 Điều 47 Luật đấu giá tài sản năm 2016 như sau:
– Giám sát quá trình tổ chức thực hiện việc đấu giá;
– Tham dự cuộc đấu giá;
– Yêu cầu tổ chức đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá khi có căn cứ cho rằng tổ chức đấu giá tài sản có hành vi vi phạm quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 9 của Luật đấu giá tài sản;
– Yêu cầu đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá dừng cuộc đấu giá khi có căn cứ cho rằng đấu giá viên có hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9; người tham gia đấu giá có hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, c hoặc d khoản 5 Điều 9 của Luật đấu giá tài sản;
– Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá vô hiệu theo quy định của Luật đấu giá tài sản và quy định của pháp luật về dân sự;
– Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
- Người có tài sản đấu giá có các nghĩa vụ được quy định tại Khoản 2 Điều 47 Luật đấu giá tài sản năm 2016 như sau:
– Chịu trách nhiệm về tài sản đưa ra đấu giá;
– Ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản;
– Giao tài sản và các giấy tờ liên quan đến tài sản đấu giá cho người mua được tài sản đấu giá theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc theo quy định của pháp luật;
– Báo cáo cơ quan có thẩm quyền về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản, diễn biến cuộc đấu giá và kết quả đấu giá tài sản trong trường hợp đấu giá tài sản nhà nước;
– Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Người có tài sản bán đấu giá thực hiện nghĩa vụ chuyển tài sản cho bên bán đấu giá nếu là động sản. Nếu là bất động sản cần phải chuyển tất cả các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu về tài sản. Nếu bán tài sản dùng để thi hành án thì người bán tài sản cần phải chuyển gia văn bản hợp đồng, văn bản thế chấp và cầm cố hoặc có thể quyết định của cơ quan thi hành án. Ngoài ra người có tài sản bán đấu giá có nghĩa vụ cung cấp những thông tin cần thiết về tài sản bán đấu giá. Người có tài sản bán đấu giá cần nộp các khoản tiền lệ phí bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
4. Tổ chức đấu giá tài sản
Tổ chức bán đấu giá tài sản có hai loại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và doanh nghiệp đấu giá tài sản.
– Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng. Giám đốc của trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản là đấu giá viên. Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập (Điều 22 Luật đấu giá tài sản năm 2016).
– Doanh nghiệp đấu giá tài sản được quy định tại Điều 23 Luật đấu giá tài sản năm 2016: Doanh nghiệp đấu giá tài sản được thành lập, tổ chức và hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh theo quy định của Luật đấu giá tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp đấu giá tư nhân có chủ doanh nghiệp là đấu giá viên, đồng thời là Giám đốc doanh nghiệp; Công ty đấu giá hợp danh có ít nhất một thành viên hợp danh là đấu giá viên, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của công ty đấu giá hợp danh là đấu giá viên. Có trụ sở, cơ sở vật chất, các trang thiết bị cần thiết bảo đảm cho hoạt động đấu giá tài sản.








